Loading ... Xin vui lòng chờ ...

"Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia 2015"


Thực hiện Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại (XTTM) quốc gia, Bộ Công Thương ban hành định hướng Chương trình năm 2015. 

ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH XTTM QUỐC GIA NĂM 2015

TỔNG QUAN

I. Triển vọng kinh tế thế giới:

Theo Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới mới công bố ngày 8/4/2014 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì sự phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế thế giới đã đạt được trong năm 2013 sẽ tiếp tục duy trì trong năm 2014 với mức tăng trưởng là 3,6%, tăng 0,6% so với mức 3% của năm 2013 và năm 2015 sẽ là 3,9%. Động lực tăng trưởng toàn cầu không chỉ đến từ các nước mới nổi mà đã còn mở rộng ra các nước phát triển như Anh, Mỹ và các nước Nam Âu.

Các nền kinh tế phát triển dự báo có mức tăng trưởng là 2,2% trong năm 2014 và 2,3% trong năm 2015 trong khi đó các nền kinh tế mới nổi không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng dẫn đầu như trước nữa với tốc độ chậm hơn so với trước khủng hoảng, lần lượt trong hai năm 2014 và 2015 là 4,9% và 5,3%

Sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ đang được coi là động lực chính vực dậy nền kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ có thể đạt 2,8% trong năm 2014 và 3% vào năm 2015. GDP của các nền kinh tế thuộc khu vực Eurozone được dự báo sẽ tăng trưởng 1,2% trong năm nay và 1,5% trong năm 2015 trong đó nền kinh tế Đức được dự báo tăng trưởng đạt 1,7% trong năm 2014, 1,6% năm 2015. Pháp đạt tốc độ tăng trưởng lần lượt là 1% và 1,5% trong hai năm 2014 và 2015. Trong khi đó Vương quốc Anh dẫn đầu về tỷ lệ tăng trưởng trong số các nền kinh tế hàng đầu thế giới, đồng thời là nước có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh nhất năm 2014 trong nhóm G7 với dự báo tăng trưởng đạt 2,9% trong năm 2014 và 2,5% trong năm 2015. Đối với Nhật Bản, báo cáo khẳng định hoạt động kinh tế tổng thể của Nhật Bản được cho là sẽ giảm một cách ổn định trước chính sách tài chính thắt chặt trong năm 2014-2015, dự kiến đạt 1,4% và 1,0% lần lượt cho năm 2014 và 2015.

Trong số các nước BRICS (Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), IMF cho rằng Nga và Brasil sẽ có xu hướng tăng trưởng chậm. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Brasil sẽ giảm từ 2,3% trong năm 2013 xuống còn 1,8% trong năm 2014. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của Nga trong năm 2014 được dự báo giảm xuống còn 1,3% từ mức 1,9% do những hỗn loạn tài chính tại thị trường mới nổi và những căng thẳng liên quan đến Ukraine.

Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc dự báo tăng 7,5% trong năm 2014 (giảm so với 7,7% đạt được trong năm 2013) và 7,3% trong năm tới. GDP của nền kinh tế Ấn Độ sau khi tăng 4,4% trong năm 2013 được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng cao hơn, đạt 5,4% trong năm nay.

Tuy nhiên, theo nhận định của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, sự phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều trở ngại khi những bất ổn về chính trị và tranh chấp lãnh thổ có chiều hướng gia tăng. Trong lúc xung đột tại Ucraina chưa được giải quyết thì căng thẳng tại Biển Đông và đảo chính tại Thái Lan đang gây nhiều quan ngại. Ngoài ra, theo nhận định của IMF, lạm phát thấp kéo dài là một trong những rủi ro đối với nền kinh tế toàn cầu trong tương lai gần, đặc biệt là khu vực đồng euro nói riêng và các nền kinh tế phát triển nói chung.

Bối cảnh thương mại toàn cầu không tích cực có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, gây ra rủi ro đối với cán cân thanh toán và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứ kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang các nước láng giềng châu Á và các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là nếu xuất khẩu sang các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU không thuận lợi. Như vậy, một mặt, hàng hóa Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc trên các thị trường lớn như Mỹ, EU. Mặt khác, hàng tiêu dùng giá rẻ của Trung Quốc sẽ có thêm cơ hội tràn vào thị trường Việt Nam. Do đó, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần có chiến lược phát triển và mở rộng thị trường phù hợp.

II. Tình hình triển khai đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam với một số đối tác.

Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển định hướng xuất khẩu, việc tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam vào các thị trường xuất khẩu lớn thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do FTA có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thông qua các lộ trình cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hàng hóa Việt Nam có thể điều kiện dễ dàng hơn khi tiếp cận các thị trường, các quốc gia đối tác trong FTA. Những hiệp định này sau khi ký kết và thực thi sẽ mở ra những cơ hội lớn cho xuất khẩu Việt Nam trong việc tiếp cận, khai thác các thị trường xuất khẩu lớn.

Việt Nam đang tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng với các đối tác thương mại chủ chốt như EU, Hàn Quốc, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu EFTA (gồm các nước Thụy Sỹ, Na-uy, Ai-xơ-len và Lich-ten-xtanh), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Hải quan (bao gồm ba nước Nga, Belarus và Kazakhstan), Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP)(ASEAN+6)...

Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp Việt Nam có nắm bắt được cơ hội do các Hiệp định thương mại tự do mang lại hay không mới là yếu tố quyết định sự thành công của các Hiệp định do Việt Nam ký kết. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước chưa tận dụng được các cam kết mở cửa thị trường do sự nắm bắt về các cơ hội được mở ra từ các FTA còn hạn chế, năng lực cạnh tranh còn nhiều yếu kém (năng suất lao động thấp, chất lượng chưa cao và không đồng đều, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu và chi phí kinh doanh cao,...). Thêm vào đó, các doanh nghiệp chưa thiết lập được một hệ thống phân phối ổn định của riêng mình ở nước ngoài, còn lệ thuộc chủ yếu vào người nhập khẩu hoặc nhà phân phối nước ngoài,... Những nguyên nhân trên đã làm cho thị trường và giá hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp trong nước không ổn định và hiệu quả xuất khẩu thấp. Do vậy, ngoài việc nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung của các doanh nghiệp, các hoạt động XTTM nhằm tìm kiếm thị trường và khách hàng để đẩy mạnh xuất khẩu ngày càng đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế và thậm chí ngay trên thị trường nội địa khi chúng ta phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường.

III. Tình hình sản xuất công nghiệp, thương mại những tháng đầu năm 2014

Sản xuất công nghiệp những tháng đầu năm 2014 tăng cao hơn cùng kì năm trước. Tính chung 4 tháng/2014, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,4% so cùng kì năm trước (cùng kì năm trước tăng 5%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,4% (cùng kì năm trước tăng 5,5%). Đồng thời, doanh thu bình quân toàn khu vực doanh nghiệp Q1/2014 tăng 15,8% so cùng kì, tỉ lệ doanh thu/tổng tài sản Q1/2014 tăng 3,5 điểm % so cùng kỳ.

Chỉ số PMI của tháng 4/2014 cho thấy sản xuất liên tục mở rộng trong 8 tháng, trong đó, sản lượng và đơn đặt hàng mới đều tăng nhanh, nhất là đơn đặt hàng mới từ nước ngoài (lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài đa tăng với tốc độ kỷ lục trong tháng 4). Điều này cũng phù hợp với tình hình xuất khẩu tăng cao hơn cùng kì. Tính chung 5 tháng/2014, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15,4% so cùng kì năm trước, cao hơn mức tăng 15,1% của cùng kì năm 2013.

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sau khi loại trừ yếu tố giá ước tăng 5,5% so cùng kì năm trước, cao hơn mức 4,6% của cùng kì 2013. Khối lượng vận chuyển hàng hóa trong 4 tháng/2014 cũng tăng nhanh hơn cùng kì năm trước, ước tăng 4,3% so với cùng kì (cùng kì năm trước tăng 2,6%).

ĐỊNH HƯỚNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI QUỐC GIA NĂM 2015

I. XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU:

1. THỦY SẢN:

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm thủy sản sang 172 thị trường, tăng hơn 15 thị trường so với năm 2012 và đạt kim ngạch là 6,7 tỷ USD, vượt 200 triệu USD so với mục tiêu được đặt ra từ đầu năm. Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là các thị trường chủ lực của thủy sản Việt Nam với tỷ trọng lần lượt là 22,6%, 17,6% và 17,1% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Một số thị trường quan trọng khác gồm Trung Quốc (8,5%), Hàn Quốc (7,7%), ASEAN (5,8%) và Australia (3,1%).

Tuy nhiên, hiện nay chi phí sản xuất các sản phẩm thủy sản của Việt Nam tăng cao do giá đầu vào đều tăng: nguyên liệu, thức ăn, thuốc thú y, điện, nước,... dẫn đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản Việt Nam bị giảm sút. Ngoài ra, các nước nhập khẩu tiếp tục tăng cường, thắt chặt các biện pháp kiểm tra chất lượng và áp dụng thêm các rào cản đặc biệt là tại các thị trường chủ lực như Hoa kỳ, EU, Nhật Bản sẽ góp phần tạo thêm các khó khăn cho các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản.

Mục tiêu của thủy sản Việt Nam là giữ vững các thị trường truyền thống chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,... đồng thời tiếp tục quảng bá, mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng và thị trường mới như Trung Đông, Nam Mỹ, Australia,... Theo kế hoạch, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2014 sẽ đạt 6,8 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam.

2. GẠO:

Thời gian qua, xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Năm 2012, xuất khẩu gạo đạt mức kỷ lục 8,1 triệu tấn, trị giá FOB 3,7 tỷ USD, năm 2013 đạt 6,68 triệu tấn, trị giá FOB 2,9 tỷ USD. So với năm 2012, số lượng giảm 13,45%, trị giá FOB giảm 16,12%.

Về thị trường xuất khẩu: Châu Á chiếm 60,15%, châu Phi 28,02%, châu Mỹ 6,85%, châu Âu 3,25%, còn lại là các khu vực khác. Các thị trường nhập khẩu chính gồm có: Trung Quốc, các nước châu Phi, Philippines, Malaysia, Cuba, Hongkong. Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các thị trường Châu Á bị sụt giảm mạnh, lượng tăng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc không bù được thiếu nhập khẩu từ Indonesia và giảm nhập từ Philippines, Malaysia. Tuy nhiên, đối với thị trường các nước Châu Phi, mặc dù chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu gạo khác nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này vẫn tăng đáng kể do nhu cầu tiêu thụ và sức mua tại khu vực này ngày càng tăng. Ngoài Châu Phi, thị trường Châu Mỹ cũng có sự tăng trưởng mạnh do nhu cầu từ các thị trường mới ngoài Cuba như Mỹ, Haiti, Mexico và Chile. Đối với thị trường Châu Âu, xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng tỷ trọng không đáng kể do dung lượng thị trường nhỏ so với các khu vực chính. So với năm 2012: khu vực châu Á giảm 26,67%, châu Phi tăng 11,59%, châu Mỹ tăng 43,38%, châu Âu tăng 132,05%. Các nước nhập khẩu chính, Trung Quốc tăng 15,88%, các nước châu Phi tăng 11,59%, Cuba tăng 16,51%, Philippines giảm 54,04%, Malaysia giảm 38,74%, Hongkong giảm 34,65%.

Tín hiệu và dự báo thị trường thời gian qua cho thấy, năm 2014 và trong thời gian tới, xuất khẩu gạo của Việt Nam đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức như diễn biến bất lợi của cung cầu thương mại thế giới; sự cạnh tranh quyết liệt trong xuất khẩu, thị trường gạo tiếp tục chịu áp lực bán hạ giá của Thái Lan và cạnh tranh xuất khẩu từ các nguồn cung cấp chính ở Châu Á, gồm có Ấn Độ, Pakistan và Myanmar, nên xu hướng giá còn tiếp tục sút giảm. Nhu cầu từ các khu vực thị trường chính dự báo không thay đổi nhiều: các nước Đông Nam Á thực hiện chính sách kích thích sản xuất tăng sản lượng, giảm nhập khẩu, tuy nhiên còn tùy thuộc vào ảnh hưởng của thời tiết và thiên tai mất mùa. Trung Quốc dự báo nhập khẩu nhiều hơn và tiếp tục đứng đầu thế giới. Châu Phi nhu cầu ổn định và tiếp tục tăng do giá gạo thấp và sức mua ngày càng cao.

Việt Nam phải chấp nhận cạnh tranh quyết liệt, nhất là với Thái Lan ở thị trường gạo thơm và gạo trắng, trong khi Ấn Độ có thị trường đặc thù của gạo basmati, gạo đồ và gạo tấm. Khu vực Đông Nam Á mặc dầu nhập khẩu sút giảm nhưng vẫn là các thị trường truyền thống có hợp đồng tập trung, Việt Nam có khả năng cạnh tranh khi có nhu cầu. Riêng Trung Quốc nhập khẩu tăng, có thể bù đắp được sút giảm nơi khác và vẫn là thị trường lớn nhất của Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt là xuất khẩu biên giới góp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa khi các thị trường khác sút giảm, nếu không bị hạn chế, tuy nhiên thị trường này mua giá thấp và luôn tiềm ẩn những rủi ro trong thương mại.

Nhìn chung, năm 2014 và 2015 sẽ tiếp nối những khó khăn của năm 2013 nhưng áp lực nhiều hơn đối với các nguồn xuất khẩu do cung cấp dư thừa, cạnh tranh quyết liệt, hiệu quả xuất khẩu thấp và giá lúa gạo nội địa khó được giá cao, nhất là vào thời điểm thu hoạch cao điểm.

Trong bối cảnh xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp cần tăng cường bám sát nhu cầu của các đối tác nhập khẩu truyền thống; xây dựng chiến lược giữ vững thị trường có hợp đồng tập trung; linh hoạt trong điều phối để tận dụng nhu cầu thương mại lớn từ Trung Quốc và Châu Phi; thâm nhập các thị trường có nhu cầu gạo lớn nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn cao như Hàn Quốc, Nhật Bản.

Các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

3. CHÈ:

Năm 2013, chè xuất khẩu đạt 141,4 nghìn tấn, giảm 3,6% so với năm 2012 nhưng giá xuất khẩu bình quân cả năm lại gia tăng lên mức 1.624 USD/tấn (tăng 6,1%) nên kim ngạch xuất khẩu chè tiếp tục tăng 2,9% lên mức 229,7 triệu USD. 15 thị trường nhập khẩu trên 1.500 tấn là: (1) Pakistan 22.433 tấn, (2) Đài Loan 22.141 tấn, (3) Trung Quốc 15.411 tấn, (4) Nga 11.492 tấn, (5) Indonesia 11.479 tấn, (6) Afganistan 11.302 tấn, (7) Mỹ 9.671tấn, (8) Iran 4.247 tấn, (9) Ba Lan 3.987 tấn, (10) Các Tiểu Vương quốc ảrập thống nhất 3.772 tấn, (11 )Malaysia 3.621 tấn, (12) Đức 2.557 tấn, (13) Arập Xê út 2.326 tấn, (14) Kuwait 1.648 tấn, (15) Thailand 1.759 tấn.

Tuy nhiên, theo báo cáo của Hiệp hội Chè Việt Nam, chè xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là xuất thô, làm nguyên liệu cho phục vụ đấu trộn và không có thương hiệu trên thế giới. Ngoài nguyên nhân do chất lượng chè Việt Nam thuộc mức thấp nhất trong các nước cung cấp chè thì nguyên nhân chủ yếu do khẩu vị và thói quen tiêu dùng. Vì vậy trong ngắn hạn kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam khó có đột phá vì nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho cả chuỗi sản xuất chè là vấn đề khó giải quyết được trong ngắn hạn trong thực trạng sản xuất chè hiện nay. Tuy nhiên thị trường Nga nói riêng và Liên Xô cũ nói chung là thị trường tiêu thụ chè chủ yếu của Việt Nam từ năm 1954 cho đến năm 2000 cả về chè xanh đóng túi nhỏ và chè đen (sau khi pha trộn với chè của một số nước khác). Dung lượng thị trường Nga ước tính khoảng 150.000 tấn/năm (lớn hơn cả tổng lượng xuất khẩu chè của Việt Nam) trong khi ngành sản xuất chè của Nga nguyên liệu của Nga hầu như không có. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây chè đóng túi của Việt Nam đã mất thị trường này do Nga bảo hộ ngành đóng gói trong nước (thuế nhập khẩu đối với chè đóng túi dưới 3kg vào Nga lên tới 40%). Cùng với tiến trình đàm phán của Việt Nam với Liên minh hải quan, chè Việt Nam có hi vọng quay trở lại thị trường này và có lợi thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh chính là Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanca do các nước này chưa có đàm phán với Liên minh Hải quan.

Theo nhận định của Hiệp hội Chè Việt Nam, hiện nay, người tiêu dùng có xu hướng uống trà nhiều hơn vì chi phí thấp và có lợi cho sức khoẻ. Bên cạnh đó là xu hướng quan tâm và sử dụng chè hữu cơ tại các nước phát triển. Sản phẩm chè Việt Nam hiện nay có chủng loại đa dạng, rất phù hợp cho các thị trường và đặc biệt ngành chè đang thúc đẩy nhanh cho các doanh nghiệp thực hiện tốt các chứng nhận về chất lượng và an toàn của thế giới phù hợp với các thị trường khó tính tăng cao giá trị của sản phẩm từ 1,8 USD/kg hiện nay lên đến 2,5 USD/kg trong những năm tới.

Năm 2014 và các năm tiếp theo, ngành chè cần tiếp tục tập trung khai thác các thị trường truyền thống như Trung Đông, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Nga và tiếp tục nỗ lực để thâm nhập vào thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu. Các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

4. CAO SU:

Cao su tiếp tục giữ vị trí thứ 3 trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sau gạo và cà phê, đóng góp khoảng 1,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, trong năm 2013, có một số thị trường truyền thống trong nhóm 20 thị trường hàng đầu của Việt Nam bị sụt giảm mạnh cả về lượng và trị giá. Nhóm các thị trường này gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Ý, Bỉ, Nga chiếm 10,2% thị phần cao su xuất khẩu của Việt Nam.

Năm 2013, 9 nước thành viên của Hiệp hội Các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) đạt khoảng 11,055 triệu tấn, chiếm 96% sản lượng toàn cầu và tăng 3,8% so năm trước. Trong đó, dẫn đầu là Thái Lan, khoảng 4,070 triệu tấn (tăng 7,7%), thứ hai là Indonesia đạt khoảng 3,18 triệu tấn (tăng 4,6%) và thứ ba là Việt Nam, khoảng 949,6 ngàn tấn (tăng 10%). Những nước khác có sản lượng tăng là Trung Quốc 856 ngàn tấn (tăng 6,7%), Philippines 116,4 ngàn tấn (tăng 5,1%), Cambodia 85,4 ngàn tấn (tăng 32,4%). Ấn Độ lại giảm sản lượng 7,5%, đạt 850 ngàn tấn, Malaysia đạt khoảng 820 ngàn tấn (giảm 11,1%) và Sri Lanka khoảng 128,3 ngàn tấn (giảm 15,6%) (3).

Trong ANRPC, Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su thiên nhiên dẫn đầu thế giới ước đạt 4,15 triệu tấn năm 2013, tăng 8,2%, Ấn Độ đứng thứ hai trên thế giới khoảng 952,7 ngàn tấn, giảm 3,5%. Những nước có mức tiêu thụ khá là Indonesia với 602,8 ngàn tấn và tốc độ tăng trưởng khá cao đạt 10%, kế tiếp là Thái Lan 519 ngàn tấn (tăng 2,8%), Malaysia 455,8 ngàn tấn, giảm nhẹ 0,7%.

Xuất khẩu cao su thiên nhiên dẫn đầu vẫn là Thái Lan, ước đạt 3,045 triệu tấn năm 2013, tăng khá cao với mức 9,1%,đứng thứ hai là Indonesia, đạt khoảng 2,719 triệu tấn, tăng 7,4%, thứ ba là Malaysia, khoảng 1.345 tấn, tăng 0,1% và thứ tư là Việt Nam, khoảng 1,091 triệu tấn, tăng 6,6%.

Theo dự báo của nhiều tổ chức và chuyên gia trên thế giới, nền kinh tế toàn cầu sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế và từng bước phục hồi, nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ tăng liên tục với tốc độ khoảng 3 - 4% hàng năm từ năm 2013 đến 2020, từ mức 11,2 triệu tấn năm 2012 sẽ có thể tăng lên khoảng 16,7 triệu tấn năm 2020. Trong khi đó, sản lượng cao su của các nước cũng sẽ tăng đáp ứng được nhu cầu và có xu hướng cung vượt hơn cầu, tạo áp lực cạnh tranh giữa các nước. Với nguồn cung và cầu cao su thiên nhiên đều tăng, Việt Nam có nhiều cơ hội để tăng lượng xuất khẩu nhưng cũng cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo chất lượng và uy tín thương mại, tăng cường công tác xúc tiến thương mại để đa dạng hóa thị trường và xây dựng thương hiệu cao su Việt Nam trên thị trường thế giới

Thị trường tiêu thụ cao su thiên nhiên hiện nay lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Malaysia. Trong giai đoạn 2014-2020, thị trường Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của kế hoạch xuất khẩu cao su Việt Nam do thuận lợi về mặt địa lý, tuy nhiên tỷ lệ giảm dần khoảng dưới 50% và những thị trường tăng mạnh là Malaysia, Ấn Độ và các thị trường mới khác (Nam Mỹ, Trung Á, Trung Đông...). Về sản phẩm cao su, nhất là lốp xe, Việt Nam gặp sự cạnh tranh mạnh của các nước đã phát triển sản phẩm cao su chất lượng cao như Nhật, Hoa Kỳ, Đức và các mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ.

Về hình thức xúc tiến thương mại, cần tập trung khai thác hiệu quả các hình thức xúc tiến thương mại sau:

Mua thông tin thương mại từ các nguồn nước ngoài hàng năm để làm tư liệu nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành hàng và tổng hợp cung cấp cho doanh nghiệp trong ngành và ngành có liên quan.

Tuyên truyền giới thiệu ngành hàng cao su Việt Nam trên một số tạp chí nước ngoài để cập nhật cho khách hàng nhập khẩu về năng lực của ngành cao su Việt Nam và một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

Thuê chuyên gia chuyên ngành cao su quốc tế để nghiên cứu thực trạng ngành cao su Việt Nam và tư vấn những sản phẩm, thị trường xuất khẩu tiềm năng mà ngành cao su Việt Nam cần đầu tư làm mặt hàng cao su xuất khẩu chủ lực.

Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua cao su nhằm giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với các nhà nhập khẩu lớn nhằm tăng cường mối quan hệ và tìm kiếm khách hàng mới.

Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng cao su tại Việt Nam giúp doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt thông tin cập nhật về tình hình xu hướng của thị trường cao su thế giới và có cơ hội tiếp xúc được nhiều khách hàng nước ngoài tiềm năng.

5. CÀ PHÊ:

Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan, năm 2013 cả nước đã xuất khẩu được trên 1,3 triệu tấn, đạt kim ngạch trên 2,7 tỷ USD, giảm 24,8% về khối lượng và 25,9% về kim ngạch so với năm 2012. Như vậy, dù có nhiều khó khăn nhưng trong cả 3 năm từ 2011-2013, ngành cà phê Việt Nam vẫn xuất khẩu hàng năm trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân và kim ngạch xuất khẩu cà phê hàng năm vẫn đạt trên 2,7 tỷ USD, cao hơn hẳn so với các năm trước, kỷ lục là năm 2012 với khối lượng trên 1,7 triệu tấn và kim ngạch trên 3,6 tỷ USD.

Hàng năm ngành cà phê Việt Nam xuất khẩu sang hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Một số thị trường lớn, khá ổn định có thể coi là thị trường truyền thống của cà phê Việt Nam gồm: Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia, Nhật Bản, Bỉ, Anh, Nga, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc,.... 30 thị trường nhập khẩu hàng đầu đã mua trên 75% sản lượng cà phê Việt Nam. Riêng năm 2013 tỷ trọng này đã là gần 82%. Nếu như năm 2011 Hoa kỳ là thị trường nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất với thị phần 11,02%, thì sang năm 2012 và 2013 Đức đã vượt lên trở thành thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam với 12% và 14,21% thị phần.Trong khi đó, Hoa kỳ đứng thứ hai với 11,75% và 10,91% thị phần. Tại thị trường châu Á, Nhật Bản, Trung Quốc là 2 thị trường nằm trong tốp thị trường nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất. Đặc biệt năm 2013 thị trường Nhật Bản đã vươn lên vị trí thứ 5 và Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 9. Nga cũng là một thị trường đầy tiềm năng khi mà quốc gia này đã vươn lên xếp thứ 8 trong bảng xếp hạng.

Hiện tại, cà phê Việt Nam đã tới hạn về sản lượng, do đó, để tiếp tục tăng kim ngạch xuất khẩu bền vững, về mặt sản xuất, cần thay thế sớm và có hiệu quả các diện tích cà phê già cỗi để đảm bảo diện tích và sản lượng cà phê ổn định, cải thiện chất lượng cà phê xuất khẩu để nâng cao giá trị gia tăng. Về mặt thị trường, trong thời gian tới, ngành cà phê Việt Nam cần tiếp tục duy trì các thị trường xuất khẩu lớn nêu trên như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, đồng thời tích cực khai thác các thị trường tiềm năng như Nga, Anh, Hồng Kong, Indonesia, Malaysia, ... Các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

6. HỒ TIÊU:

Từ năm 2003 đến nay, Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất, xuất khẩu Hồ tiêu số một thế giới, chiếm trên 30% sản lượng và gần 50% thị phần xuất khẩu toàn toàn cầu. Hồ tiêu Việt Nam đã hiện diện trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hồ tiêu Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về số lượng và giá cả so với các nước sản xuất, xuất khẩu chính trên thế giới như Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Sri Lanka. Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam năm 2013 kim ngạch là 898,3 triệu USD, tăng 13,2% so với năm 2012.

Hoa Kỳ: Đây là thị trường nhập khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay hầu như chưa có doanh nghiệp Việt Nam nào xuất khẩu trực tiếp và thâm nhập đến thị trường tiêu dùng cuối cùng của Hoa Kỳ mà hình thức chủ yếu vẫn là xuất khẩu thô hoặc sơ chế sau đó các công ty Hoa Kỳ sẽ chế biến lại. Vì thế, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu hạt tiêu đối với Hoa Kỳ vẫn luôn dương trong những năm qua, nhưng để duy trì và gia tăng kim ngạch xuất khẩu đối với thị trường này, trong thời gian tới cần tập trung nguồn lực nhằm thâm nhập đến thị trường tiêu dùng cuối cùng của Hoa Kỳ.

Đức: Nếu như năm 2001 Đức mới chỉ là thị trường xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ 10 của Việt Nam thì đến nay Đức đã là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam. Hạt tiêu là một trong những gia vị được ưa thích nhất của người Đức phải nhập khẩu từ nước ngoài. Theo số liệu thống kê, hiện Việt Nam đứng đầu trong số các nước cung cấp hạt tiêu cho thị trường Đức. Lượng hạt tiêu Đức nhập từ Việt Nam chiếm 35% thị phần, tiếp đến là từ Braxin 19% và Indonesia 17%. Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam sang thị trường này tăng mạnh trong thời gian gần đây hứa hẹn một thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng cho mặt hàng tiêu Việt Nam. Hơn nữa, Đức cũng là cửa ngõ trung chuyển của khu vực EU, do đó trong năm 2015 vẫn tiếp tục phải tập trung đẩy mạnh xúc tiến thương mại sang thị trường này.

Singapore: Từ nhiều năm qua Singapore vẫn được coi là thị trường truyền thống trung gian cho hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam với khu vực ASEAN, khu vực châu Á và cả thế giới vì đây là nơi chuyển tải hàng hoá hết sức thuận lợi. Singapore cũng đã từng là một trong những nước nhập khẩu hạt tiêu lớn của Việt Nam song hiện nay xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường nay không ổn định (lúc giảm, lúc tăng). Singapore thuộc khối ASEAN, có vị trí địa lý gần Việt Nam, chi phí vận chuyển thấp, do đó năm 2015 cần phải tiếp tục khai thác tiềm năng và tìm hiểu rõ nguyên nhân không ổn định để có biện pháp khôi phục xuất khẩu mặt hàng hạt tiêu sang thị trường này.

UAE: Tương tự như Singapore, UAE là cửa ngõ trung chuyển của hạt tiêu Việt Nam sang khu vực Trung Đông. UAE cũng là thị trường nhập khẩu hạt tiêu lớn thứ 3 của Việt Nam, tuy nhiên những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường này liên tục sụt giảm (năm 2012 giảm 7,2% so với năm 2011, năm 2013 giảm 15,5% so với năm 2012). Với vai trò là thị trường truyền thống, đồng thời cũng giữ vai trò là cửa ngõ trung chuyển sang khu vực Trung Đông, năm 2015 cần phải tổ chức các cuộc kết nối giao thương trực tiếp cho các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường này hoặc mời đối tác của thị trường này sang Việt Nam để kết nối giao thương nhằm khôi phục lại xuất khẩu với thị trường này.

Năm 2014, nhu cầu toàn cầu về tiêu hiện vẫn đang ở mức cao, nguồn cung hồ tiêu từ các nước sản xuất chính không tăng so vụ 2013, tình hình kinh tế trong nước và quốc tế đang khôi phục, tác động tốt cho nhu cầu XNK hàng hóa trong đó có Hồ tiêu.

Các hoạt động xúc tiến thương mại hiệu quả như tham gia các Hội chợ triển lãm chuyên ngành gia vị, thực phẩm trong và ngoài nước được thực hiện trong thời gian qua đã giúp quảng bá ngành hàng với đông đảo khách hàng tại các thị trường tiềm năng; giữ vững và củng cố các mối quan hệ giao thương với khách hàng truyền thống; mở rộng thị trường, tìm kiếm và xây dựng quan hệ với các khách hàng mới; tăng cường xuất khẩu trực tiếp, giảm thiểu các kênh trung gian giúp các doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận; đồng thời giúp các doanh nghiệp tìm hiểu kỹ hơn yêu cầu về chất lượng, chủng loại hàng hoá và các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm, về tập quán thương mại, các quy định mới về thủ tục xuất nhập khẩu và các quy định liên quan nhằm đáp ứng thỏa mãn về số lượng và chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm theo yêu cầu khách hàng.

7. ĐIỀU:

Năm 2006 lần đầu tiên ngành Điều Việt Nam vượt qua Ấn Độ để trở thành nước xuất khẩu điều nhân số 1 thế giới. Từ ngành hàng vào những năm 90 chưa ai biết đến thì ngành Điều Việt Nam đã từng bước phát triển và khẳng định vị thế ở thị trường trong nước và quốc tế. Hạt Điều Việt Nam được đa số các nhà nhập khẩu nước ngoài đánh giá có chất lượng thơm ngon, hiện nay tại các siêu thị lớn của các nước Mỹ, Châu Âu, Úc,... thương hiệu hạt Điều Việt Nam đã trở thành thương hiệu được ưa chuộng. Nhiều nhà máy chế biến mới được xây dựng, công nghệ chế biến không ngừng cải tiến làm tăng công suất chế biến, tăng sản lượng Điều nhân xuất khẩu.

Năm 2013 sản lượng xuất khẩu nhân điều của cả nước đạt 264 ngàn tấn với kim ngạch xuất khẩu 1,66 tỷ USD, tăng 19,2% về lượng và tăng 12,8% về trị giá so với năm 2012. Tuy nhiên giá xuất khẩu điều nhân bình quân năm nay có giảm so với năm 2012.Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam (chiếm 30% thị phần), Trung Quốc (25% thị phần), EU (25%), còn lại là các quốc gia khác. Như vậy, năm 2013 là năm thứ tám liên tiếp Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều nhân lớn nhất thế giới (cả về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu)

Với mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu là 1,8 tỷ USD vào năm 2014, việc tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu thì việc duy trì, phát triển các thị trường trọng điểm là một yêu cầu cấp thiết để ngành Điều phát triển ổn định và bền vững.

Hoa Kỳ là một trong những thị trường tiêu thụ hạt Điều lớn nhất thế giới. Với thu nhập và mức sống của người dân rất cao, vì vậy đây là thị trường tiêu thụ sản phẩm hạt Điều có phẩm cấp cao và đòi hỏi nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, giá bán vào thị trường này cũng rất cao và ổn định. Ngoài thị trường Hoa kỳ, đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng Điều vào thị trường Trung Đông cũng được coi là hết sức cần thiết. Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) từ lâu nay được coi là cửa ngõ vào thị trường Trung Đông tiềm năng (15 quốc gia) - là trung tâm của thị trường tiêu thụ hạt Điều tại khu vực Trung Đông. Đặc điểm người Hồi giáo ít ăn thịt nên trong thực phẩm họ chế biến, tiêu thụ rất nhiều hạt. Do có nguồn tài nguyên dầu mỏ dồi dào, thu nhập bình quân đầu người cao nên sức mua khá tốt. Hiện Trung đông là thị trường tiêu thụ hạt Điều lớn thứ 4 thế giới. Các thị trường quan trọng khác như châu Âu, Trung Quốc cũng là những thị trường lớn cho hạt Điều của Việt Nam. Do vậy, các hoạt động xúc tiến thương mại như tổ chức tham dự các hội chợ triển lãm chuyên ngành, tổ chức các đoàn giao dịch thương mại tới các thị trường này cũng như việc tổ chức Hội nghị ngành điều xuất khẩu tại Việt Nam nhằm quảng bá ngành chế biến hạt Điều, để khách hàng hiểu biết sâu hơn năng lực sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của Việt Nam từ đó tăng cường kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường này.

8. DỆT MAY:

Dệt may là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, ngành dệt may đã phát triển khá mạnh hơn 10 năm qua. Năm 2013, tình hình sản xuất kinh doanh của ngành dệt may tương đối thuận lợi, lực lượng lao động ổn định, xuất khẩu sang các thị trường lớn vẫn tăng trưởng khá, mặc dù nhập khẩu dệt may vào các thị trường này nói chung đều tăng chậm, thậm chí giảm. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đã tích cực tận dụng cơ hội mở rộng thị trường mới sang các nước như Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, khu vực châu Phi, Trung Đông, trong khi vẫn duy trì được các bạn hàng cũ trước đây như Mỹ, Nhật, EU,...

Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2013 đạt hơn 20 tỷ USD, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm 2012. Thị trường chính: xuất khẩu vào Mỹ lớn nhất ước đạt 8,55 tỷ USD, tăng 14,35 so với 2012, chiếm 42,7% tổng KNXK toàn ngành. Thị trường EU ước đạt 2,66 tỷ USD, tăng 11,76% so 2012, chiếm 13,28% tổng KNXK. Thị trường Nhật đạt 2,39 tỷ USD, tăng 20,28% so 2012, chiếm 11,94% tổng KNXK. Thị trường Hàn Quốc đạt 1,67 tỷ USD, tăng 53,92% so 2012, chiếm 8,34% tổng KNXK. Các thị trường khác đạt hơn 4,75 tỷ USD

Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam

Trong năm 2014, dựa vào những thuận lợi mang lại được từ bối cảnh kinh tế thế giới và năng lực thực tế trong ngành khả năng ngành dệt may sẽ có thể đạt 23,5 – 24,5 tỷ USD, tăng 15-20% so với 2013.

Để đạt được mục tiêu xuất khẩu đã đề ra, trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

9. DA GIÀY, TÚI XÁCH:

Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt da giày, túi xác đạt 10.32 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2012, vượt 3% so với kế hoach đặt ra của năm 2013, ngành công nghiệp da giày túi xách chiếm tỷ lệ 11% nhóm hàng công nghiệp chế biến và 7.7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó: Túi xách, vali, cặp đạt 1.920 tỷ USD tăng 26 % so với cùng kỳ năm 2012; Giày dép: đạt 8.4 tỷ USD tăng 15 % so với cùng kỳ năm 2012.

Về thị trường xuất khẩu:

- Thị trường EU: tăng trưởng nhẹ do thị trường phục hồi đạt 3,41tỷ USD chiếm 33.1% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Trong đó, giày dép đạt 2,88 tỷ USD tăng 37% so với năm 2012, túi xách đạt 530 triệu USD.

- Thị trường Mỹ: xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng mạnh trong những năm gần đây. Kim ngạch xuất khẩu giày dép vào Mỹ năm 2012 tăng 3,46 tỷ USD chiếm 33,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành, trong đó giày chiếm 2,64 tỷ USD, túi xách chiếm 819 triệu USD

Ngoài ra 10 nước nhập khẩu lớn giày dép từ Việt Nam: Mỹ, Anh, Đức, Bỉ, Canada, Chile, Trung quốc (sau Italy), Phần lan, Hàn Quốc. Ngoài ra, đối với các thị trường xuất khẩu khác như Liên Bang Nga, các nước Đông Âu, Trung Đông, châu Phi, tuy không yêu cầu cao về mẫu mã và chất lượng nhưng hàng Việt Nam vẫn khó thâm nhập mạnh vào thị trường các nước này

Ngành da giày túi xách dự kiến kế hoạch năm 2014 đạt 11,33 tỷ USD trong đó giày dép 9,3 tỷ USD, túi cặp xách 2,1 tỷ USD đạt tỷ lệ tăng trưởng bình quân 10%.

Để đạt được mục tiêu xuất khẩu đã đề ra, trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

10. SẢN PHẨM CHẤT DẺO (NHỰA):

Xuất khẩu các sản phẩm nhựa của Việt Nam trong năm 2013 đạt 2,2 tỷ USD. Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều doanh nghiệp sản xuất của ngành gặp nhiều khó khăn mà đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ do nhu cầu tiêu dùng nội địa giảm trong khi những chi phí đầu vào như: điện, than, xăng dầu, nguyên vật liệu liên tục tăng cao.

Hiện nay, nhu cầu sản phẩm nhựa trên thị trường thế giới vẫn rất lớn, sản phẩm nhựa của Việt Nam đặc biệt là sản phẩm nhựa gia dụng hiện đang được các nhà nhập khẩu đánh giá cao về chất lượng, ngành nhựa vẫn được đánh giá là một ngành có tiềm năng phát triển tốt vì chủng loại sản phẩm vô cùng đa dạng và có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực từ công nghiệp đến xây dựng, đời sống và thẩm mỹ. Do đó dự báo kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa của nước ta sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới với mức tăng trưởng từ 13,5-16,5%.

Trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm: Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài: lựa chọn những hội chợ chuyên ngành, có uy tín, phù hợp với sản phẩm, năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Phối hợp tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại, nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

11. GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ:

Những năm gần đây, trong khu vực Châu Á, Việt Nam nổi lên là một quốc gia mạnh về ngành đồ gỗ. Việt Nam có những thuận lợi về nguồn lao động giá rẻ, số lượng các doanh nghiệp trong ngành lớn, có năng lực xuất khẩu, sản phẩm Việt Nam được đánh giá cao trên thị trường quốc tế về chất lượng, mẫu mã và khả năng thay đổi, nắm bắt nhanh thị hiếu của khách hàng. Ngành gỗ hiện nay đang có nhiều triển vọng phát triển khi các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã từng bước có thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng đồ gỗ trên thế giới vẫn còn khả năng tăng cao, nền kinh tế thế giới đang phục hồi, đăc biệt là Mỹ

Về thị trường, EU, Hoa kỳ là những thị trường xuất khẩu chính của đồ gỗ Việt Nam. Các thị trường khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Hàn Quốc cũng là những nhà nhập khẩu quan trọng của đồ gỗ Việt Nam. Riêng tại thị trường Hoa kỳ, Việt Nam trở thành nhà cung cấp đồ gỗ lớn thứ hai sau Trung Quốc.

Ngành gỗ Việt Nam đặt mục tiêu sẽ đạt mốc kim ngạch xuất khẩu 7 tỷ USD vào năm 2020. Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu gỗ cũng đang đối mặt với những khó khăn nhất định. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại cộng với khủng hoảng nợ công của một số quốc gia châu Âu khiến cho nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hóa sụt giảm trong đó có gỗ và các sản phẩm gỗ. Ngoài ra, các thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn của Việt Nam là Mỹ và EU áp dụng nhiều tiêu chuẩn mới đối với mặt hàng gỗ xuất khẩu vào các nước này, nhất là các quy định về nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu. Trong bối cảnh đó, các nước Châu Á sẽ là điểm đến quan trọng của đồ gỗ Việt Nam trong thời gian tới. Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhiều thị trường châu Á khác cũng đang ngày càng quan tâm hơn tới đồ gỗ Việt Nam.

Để thúc đẩy, tăng cường xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang thị trường trọng điểm, các thị trường tiềm năng, các hoạt động xúc tiến thương mại cho ngành gỗ trong thời gian tới cần tập trung khai thác các hoạt động xúc tiến thương mại hiệu quả như tham gia các hội chợ triển lãm chuyên ngành đồ gỗ nội thất tại Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn quốc, đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần tích cực tìm hiểu, nắm bắt và khai thác tốt thị trường nội địa đầy tiềm năng. Tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng: Phối hợp chặt chẽ với Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài, tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền quảng bá, thu hút vận động được các doanh nghiệp nước ngoài phù hợp đến gặp gỡ, làm việc với doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

12. DƯỢC PHẨM:

Trong 2 thập niên vừa qua, ngành sản xuất dược phẩm đã có bước phát triển tốt, cả nước đã có trên 100 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP- WHO với mức tăng trưởng toàn ngành luôn duy trì từ 15 đến 18%/năm. Ngành dược Việt Nam đã sản xuất và cung ứng hầu hết các nhóm thuốc Generic (hết bảo hộ độc quyền) cung cấp cho các cơ sở y tế và người dân. Một số nhà sản xuất thuốc trong nước bắt đầu tự sản xuất các thuốc chuyên khoa, đặc trị. Nhiều doanh nghiệp đã bước đầu xuất khẩu thuốc ra thị trường nước ngoài. Nhằm giúp các doanh nghiệp dược có cơ hội tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm quản lý, tăng cường, mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh doanh, tìm hiểu thị trường xuất khẩu dược phầm tiềm năng, nâng cao hiệu quả xuất khẩu dược phẩm và thu hút đầu tư cho ngành dược trong các năm tới đồng thời học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận, tiếp thu những thành tựu y dược tiên tiến của thế giới, lựa chọn được công nghệ phù hợp, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, phục vụ tốt hơn công tác phòng và chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân, Hiệp hội và các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dược phẩm cần tiếp tục triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường y dược Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược trong nước nói riêng. Các hoạt động như tổ chức Hội chợ, triển lãm chuyên ngành y dược tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng như các hoạt động tham gia các hội chợ, triển lãm, tổ chức các đoàn giao dịch thương mại tại nước ngoài sẽ là cơ hội tốt để các doanh nghiệp dược Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và xuất khẩu, đáp ứng đầy đủ và kịp thời thuốc phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

13. PHẦN MỀM:

Trong vòng 5 năm trở lại đây, Việt Nam thường xuyên được các tổ chức tư vấn hàng đầu thế giới như KPMG, A.T.Kearne, Gartner ...đánh giá và xếp hạng cao trong danh sách các điểm đến hấp dẫn nhất thế giới về gia công xuất khẩu phần mềm. Việt Nam liên tục nằm trong top 30 nước gia công phần mềm tốt nhất thế giới, là địa chỉ hấp dẫn thứ 10 trên toàn cầu về gia công phần mềm, cùng với nhiều quốc gia châu Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia...Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam nằm trong top 10 thành phố hấp dẫn về gia công xuất khẩu phần mềm trên thế giới.

Trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các doanh nghiệp ngành phần mềm cần tiếp tục mở rộng xuất khẩu và quan hệ hợp tác chiến lược với thị trường Nhật Bản, phấn đấu đến năm 2015 đưa Nhật Bản trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành phần mềm Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần mở rộng thị trường châu Âu, hiện thị trường xuất khẩu phần mềm của Việt Nam chủ yếu đến từ Pháp, Đức trong khi quốc gia có nhu cầu xuất khẩu lớn nhất Châu Âu là Anh và Hà Lan thì hầu như vẫn chưa có nhiều. Các doanh nghiệp cần tận dụng các chương trình hỗ trợ hợp tác phát triển của các quốc gia Châu Âu như Hà Lan, Đan Mạch, Phần Lan,... để đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp tại Châu Âu này để phát triển sản phẩm, chuyển giao công nghệ từ đó nâng cao năng lực của ngành.

- Tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với thị trường bắc Mỹ trong đó trọng điểm là Mỹ và Canada.

- Tập trung hình thành các sản phẩm xuất khẩu chính của ngành phần mềm Việt Nam là: dịch vụ gia công phát triển phần mềm, dịch vụ qui trình kinh doanh BPO, dịch vụ kiểm thử sản phẩm phần mềm, xuất khẩu – cho thuê chuyên gia phần mềm, dịch vụ triển khai phần mềm tại các nước trong khu vực,...

- Khảo sát mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội hợp tác, xuất khẩu các sản phẩm, giải pháp phần mềm đóng gói của Việt Nam tới các nước trong khu vực châu Á (Myanmar, Đài Loan, Thái Lan...),

14. CƠ KHÍ, CHẾ TẠO, SẢN PHẨM TỰ ĐỘNG HÓA, THIẾT BỊ ĐIỆN:

Nhìn chung, ngành cơ khí, chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị, phụ tùng, tự động hóa và thiết bị điện trong thời gian gần đây đã chú trọng đầu tư đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất ứng dụng công nghệ tự động tự động hoá của các nước có nền công nghiệp tiên tiến đã làm thay đổi căn bản trình độ năng lực và công nghệ, do đó một số doanh nghiệp đã nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Một số sản phẩm máy móc, thiết bị đã bước đầu khẳng định vị trí, chiếm lĩnh thị trường thay vì phải nhập khẩu như trước đây.

Trong năm 2014 và các năm tiếp theo, các doanh nghiệp cần tập trung khai thác thị trường các nước Đông Nam Á nhằm tìm kiếm cơ hội xuất khẩu. Trong khu vực, Lào và Campuchia có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm cơ khí, thiết bị điện như các loại dây cáp, trạm biến áp, linh kiện, thiết bị chiếu sáng trong hệ thống hạ tầng giao thông... Hơn nữa phân khúc thị trường thiết bị điện của Lào và Campuchia lại rất phù hợp với năng lực cung cấp sản phẩm sẵn có của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những sản phẩm phục vụ cho dân dụng và công nghiệp có chất lượng tốt, giá thành rẻ. Đối với thị trường Châu Phi là các thiết bị công nghệ chế biến lương thực - thực phẩm, xe cơ giới, đồ điện tử dân dụng (quạt điện, máy điều hoà, ti vi, tủ lạnh,...) cũng là những sản phẩm tiềm năng mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu. Các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cần tiếp tục triển khai thực hiện, gồm giới thiệu, quảng bá sản phẩm qua việc tham dự các Hội chợ triển lãm tại thị trường mục tiêu; Liên kết chặt chẽ các tổ chức, Hiệp hội trong và ngoài nước tổ chức các chương trình Hội chợ triển lãm có quy mô lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tạo cơ hội cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận với khách hàng quốc tế.

 

XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua truyền thông

a. Mục đích: thông qua các hoạt động truyền thông nhằm cung cấp thông tin sâu rộng đến với người tiêu dùng và nhà sản xuất, từ đó góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về việc tiêu dùng và sản xuất hàng Việt.

b. Nội dung chi tiết:

Nội dung: sản xuất, phát sóng chương trình truyền hình với tiêu chí quảng bá hàng Việt Nam; khuyến khích tiêu dùng nội bộ trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp; hướng dẫn, vận động người tiêu dùng; giới thiệu sản phẩm Việt, doanh nghiệp sản xuất hàng Việt và doanh nhân thành đạt người Việt Nam; kỹ năng sản xuất, kinh doanh...

 

2. Các hoạt động đưa hàng Việt về nông thôn, khu công nghiệp và khu đô thị

a. Mục đích: quảng bá hàng Việt Nam; giới thiệu về doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng Việt Nam; chất lượng sản phẩm, kỹ năng phân biệt hàng giả hàng nhái, kết nối giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối sản phẩm, liên kết các nhà sản xuất và địa phương để thiết lập kênh phân phối sản phẩm về nông thôn, thực hiện các đợt đưa hàng về nông thôn theo cụm.

b. Nội dung chi tiết

Bán hàng Việt về nông thông, bán hàng cho công nhân khu công nghiệp, .. 

 

3. Điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong nước

a. Mục đích: nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng đối với những mặt hàng thiết yếu; quy mô và năng lực cung ứng; mạng lưới phân phối trên thị trường; định hướng cho việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước có trọng tâm, trọng điểm; là thông tin cơ sở để xây dựng cơ chế điều tiết cung - cầu bình ổn thị trường, phát triển hệ thống phân phối, thiết lập bản đồ phân phối, bán buôn, bán lẻ, phân bổ hạ tầng thương mại toàn quốc.

b. Nội dung chi tiết

- Đối tượng: Điều tra một số ngành hàng thiết yếu

- Số lượng: 04 ngành hàng/năm

- Phạm vi: toàn quốc

- Thời gian thực hiện: Cả năm

4. Tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại tổng hợp

a. Mục đích: giới thiệu sản phẩm, góp phần tôn vinh hàng Việt, doanh nhân Việt và đưa hàng Việt đến gần hơn với người tiêu dùng, quảng bá chất lượng sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư, hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp, các địa phương.

b. Nội dung chi tiết

- Nội dung: Các hoạt động xúc tiến bán hàng (giảm giá, khuyến mại): tháng hàng Việt, tuần hàng Việt, ngày hàng Việt, chương trình hàng Việt "Made in Vietnam", chương trình giờ vàng...Chương trình tôn vinh hàng Việt, doanh nhân Việt, bình chọn sản phẩm Việt được yêu thích nhất theo quý, năm.

- Số lượng: 15-20 chương trình/năm

- Phạm vi: toàn quốc

- Thời gian thực hiện: cả năm

5. Đào tạo, tập huấn ngắn hạn về kinh doanh, tổ chức mạng lưới bán lẻ; hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo chuyên ngành ngắn hạn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong những ngành đặc thù...

a. Mục đích: cung cấp kiến thức cần thiết cho các doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm xây dựng mạng lưới bán lẻ hoạt động hiệu quả, sâu sát đến từng vùng, miền.

b. Nội dung chi tiết

- Nội dung đào tạo:

Kỹ năng quản lý; kỹ năng bán hàng Xây dựng và phát triển thương hiệu; xây dựng và phát triển hệ thống phân phối

- Số lượng: 5 - 10 đợt/năm

- Quy mô: tối thiểu 50 doanh nghiệp tham gia/đợt

- Phạm vi: toàn quốc

- Thời gian thực hiện: cả năm

XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI MIỀN NÚI, BIÊN GIỚI, HẢI ĐẢO: 

1. Mục tiêu

Mục tiêu chung: Hỗ trợ các doanh nghiệp thiết lập và phát triển hệ thống kênh phân phối hàng Việt Nam từ vùng sản xuất đến khu vực biên giới, miền núi, vùng đồng bào dân tộc và hải đảo, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường của các nước láng giềng. Nâng cao năng lực cho cán bộ và thương nhân vùng biên giới, miền núi và hải đảo về công tác quản lý chợ, khu kinh tế cửa khẩu, tổ chức mua bán, tiêu thụ sản phẩm ở vùng biên giới, miền núi và hải đảo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Mục tiêu cụ thể:

- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng; phát hành các ấn phẩm, chuyên đề; tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình nhằm điều tiết, nâng cao năng lực sản xuất, chế biến, giao nhận – vận chuyển và phân phối hàng hóa từ vùng sản xuất đến khu vực miền núi, biên giới cũng như xuất khẩu biên mậu sang các nước có chung biên giới.

- Tổ chức hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối hàng Việt Nam sang các nước có chung biên giới như việc tổ chức các hội chợ, tổ chức các đoàn doanh nghiệp giao thương nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam với hàng hóa của Trung Quốc và các nước thứ ba đang tràn ngập tại các khu vực biên giới của nước ta, hàng hóa Việt Nam dần chiếm lĩnh được thị trường khu vực biên giới của nước ta cũng như các nước láng giềng. Góp phần giúp các doanh nghiệp xây dựng các kênh phân phối hàng hóa Việt Nam từ hệ thống cửa khẩu, Khu kinh tế cửa khẩu vào thị trường các nước láng giềng theo hướng ổn định và lâu dài.

- Phát huy ưu thế của các Khu kinh tế cửa khẩu: phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu trở thành các điểm quảng bá, trung chuyển hàng hóa Việt Nam đi vào thị trường các nước láng giềng, chứ không chỉ tập trung bán hàng nhập khẩu cho khách du lịch nội địa như thực tế phổ biến hiện nay.

- Tổ chức các phiên chợ bán hàng Việt ở khu vực biên giới, miền núi và hải đảo nhằm cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, biên giới và hải đảo. Thúc đẩy phát triển sản xuất, thương mại và dịch vụ khu vực biên giới, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa cho khu vực biên giới đồng thời tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phổ biến kiến thức hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra chuyển biến về đời sống xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái khu vực biên giới, miền núi và hải đảo.

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về thương hiệu sản phẩm hàng hóa đến đồng bào ở khu vực biên giới, miền núi và hải đảo, nâng cao nhận thức về xúc tiến thương mại cho đồng bào. Phát triển mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới và tạo ra diễn đàn và kênh thông tin cho các doanh nghiệp tăng cường các hoạt động quảng bá sản phẩm và thương hiệu của mình.

2. Kế hoạch triển khai

a. Phát triển hệ thống phân phối hàng Việt từ khu vực sản xuất đến khu vực miền núi, biên giới và hải đảo.

+ Tổ chức phiên chợ bán lẻ hàng Việt tại khu vực miền núi, biên giới và hải đảo.

- Số lượng: 100 phiên chợ.

- Quy mô: 25 – 30 gian hàng (10 – 15 doanh nghiệp).

- Kinh phí: bao gồm chi phí tổ chức (bao gồm các chi phí thuê địa điểm, tuyên truyền, quảng cáo, khánh tiết, điện nước, vệ sinh môi trường, phòng chống chát nổ, bảo đảm an ninh, trật tự, công tác quản lý, nhân công phục vụ...)...

- Phạm vi: các huyện miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và hải đảo trên khắp cả nước.

- Thời gian: năm 2015

b. Các hoạt động nâng cao năng lực cho thương nhân tham gia xuất khẩu hàng hóa qua biên giới và thương nhân tại các khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và hải đảo

+ Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng

- Đối tượng: các cán bộ, chủ nhiệm hợp tác xã và thương nhân vùng biên giới, miền núi và hải đảo.

- Quy mô: tối thiểu 40 học viên.

- Nội dung: tập huần, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về công tác quản lý chợ, khu kinh tế cửa khẩu, tổ chức mua bán, tiêu thụ sản phẩm ở vùng biên giới, miền núi và hải đảo và tổ chức thực hiện các chính sách của Chính phủ.

- Phạm vi: tại các tỉnh biên giới, miền núi và hải đảo.

- Thời gian: năm 2015

(trích nguồn: Cục xúc tiến thương mại)


Thứ năm, 22/01/2015 - 4:19 AM

Gửi bình luận của bạn

Bài viết này chưa có lời bình nào. Hãy trở thành người đầu tiên nhé!

1. Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
2. Tiêu đề của nhận xét:
3. Viết nhận xét của bạn vào đây:
4. Tên của bạn: (tùy chọn)
5. Nhập vào mã bên dưới:
img


Search Engine Submission - AddMe

Hỗ trợ trực tuyến

close
  • Ms Linh (Amanda)
    Mobile : ( 84) 93.5888.539
  • Ms Thu (Jennifer)
    Mobile : (84) 97. 3825 .911
  • Ms Thuý (Sofia)
    Mobile : ( 84) 90.2285.659
  • Ms Liên (Lily)
    Mobile : (84)94. 6943.496
Hỗ trợ Trực tuyến